Cholesterol là một chất thuộc nhóm steroid, cần thiết cho cuộc sống, là thành phần cấu tạo các màng tế bào của tất cả các cơ quan và mô trong cơ thể . Cholesterol là tiền chất tạo ra các kích thích tố rất cần thiết cho phát triển, tăng trưởng và sinh sản. Cholesterol tạo thành các acid mật để giúp ruột hấp thụ các chất dinh dưỡng từ thức ăn. Một lượng nhỏ cholesterol của cơ thể lưu thông trong máu dưới dạng hạt phức tạp gọi là lipoprotein. Những lipoprotein này bao gồm một số hạt mang cholesterol dư thừa để xử lý (HDL-C, Cholesterol tốt) và một số các hạt mang cholesterol được lưu giữ trong các mô và cơ quan (LDL-C, Cholesterol xấu). Các xét nghiệm định lượng  cholesterol toàn phần (cholesterol tốt và xấu) được thực hiện trong máu.

      Khi cần thiết cơ thể có thể sản xuất cholesterol để sử dụng , nhưng chế độ ăn uống cũng là nguồn cung cấp cholesterol. Một người có thể có mức độ cholesterol cao do di truyền hoặc do ăn quá nhiều các loại thực phẩm có nhiều chất cholesterol, chất béo bão hòa và không bão hòa (chất béo trans), hậu quả là mức độ cholesterol trong máu có thể tăng cao và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe . Cholesterol dư trong máu có thể được lưu giữ trong các màng của thành mạch máu tạo thành mảng xơ vữa. Mảng xơ vữa có thể làm  thu hẹp hoặc làm tắt nghẽn mạch máu, dẫn đến xơ cứng động mạch (xơ vữa động mạch) và tăng nguy cơ của nhiều vấn đề về sức khỏe, bao gồm cả bệnh tim và đột quỵ.

      Giám sát và duy trì nồng độ cholesterol bình thường là quan trọng để có cuộc sống khỏe mạnh.

    Xét nghiệm cholesterol toàn phần, cùng với các xét ​​nghiệm các chất béo khác trong huyết thanh được sử dụng để chẩn đoán tăng lipid máu. Nồng độ cũng tăng trong các rối loạn chức năng gan và tuyến giáp.

     Xét nghiệm cholesterol liên quan đến triglycerides, HDL-cholesterol  LDL-cholesterol là hữu ích trong việc đánh giá nguy cơ bệnh mạch vành tim.

 Vì vậy, xét nghiệm này được sử dụng trong chẩn đoán và điều trị bệnh xơ vữa động mạch

 Tăng cholesterol máu cũng có thể do bệnh tiểu đường, nhược giáp.


 Thử nghiệm được sử dụng như thế nào?

    Xét nghiệm cholesterol toàn phần được sử dụng đơn độc hoặc là một phần của hồ sơ bộ lipid để giúp dự đoán nguy cơ phát triển bệnh tim mạch của cá nhân và giúp đưa ra quyết một định phương pháp điều trị cần nếu có ranh giới hoặc nguy cơ cao. Là một phần của hồ sơ bộ lipid (bao gồm các xét nghiệm cholesterol lipoprotein mật độ cao (HDL-C), cholesterol lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL-C) và triglycerides, cũng có thể được sử dụng để theo dõi hiệu quả điều trị .

   Vì cholesterol cao trong máu liên quan đến xơ cứng động mạch (xơ vữa động mạch), bệnh tim mạch, và tăng nguy cơ tử vong vì cơn đau tim ( nhồi máu cơ tim cấp), kiểm tra cholesterol được coi là một phần thường qui của chăm sóc sức khỏe dự phòng.

    Kết quả xét nghiệm cholesterol và các thành phần khác của hồ sơ bộ lipid được sử dụng cùng với các yếu tố nguy cơ khác đ đánh giá có thể phát triển bệnh tim mạch,  một kế hoạch điều trị và theo dõi có thể được đề nghị. Các lựa chọn điều trị có thể bao gồm những thay đổi về lối sống như chế độ ăn kiêng hoặc tập thể dục hoặc thuốc hạ lipid như statin.


 Khi nào được chỉ định?

 Người lớn

   Xét nghiệm cholesterol được khuyến cáo như là một xét nghiệm sàng lọc được thực hiện cho tất cả người lớn không có yếu tố nguy cơ mắc bệnh  tim mạch ít nhất bốn đến sáu năm một lần. Cholesterol  thường được thực hiện kết hợp với  kiểm tra sức khỏe thường qui.

    Cholesterol được xét nghiệm thường xuyên hơn (thường là vài lần mỗi năm) khi một người có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ bị bệnh tim mạch. Các yếu tố nguy cơ chính bao gồm:

  • - Hút thuốc lá
  • - Thừa cân hoặc béo phì
  • - Chế độ ăn uống không lành mạnh
  • - Không hoạt động thể chất (không tập thể dục đủ)
  • - Tuổi (nam từ 45 tuổi trở lên hoặc nữ từ 55 tuổi trở lên)
  • - Huyết áp cao  hoặc dùng thuốc cao huyết áp
  • - Tiền sử gia đình mắc bệnh tim mạch sớm (bệnh tim mạch ở một thành viên trong gia đình  - nam giới dưới 55 tuổi hoặc người thân dưới 65 tuổi)
  • - Có bệnh tim đã có từ trước hoặc đã bị đau tim.
  • - Bị tiểu đường hoặc tiền tiểu đường.

Thiếu niên

   Sàng lọc lượng cholesterol cao như một phần của hồ sơ bộ lipid được khuyến cáo cho trẻ em và thanh niên, nên được xét nhgi6m một lần giữa các độ tuổi từ 9 đến 11 và sau đó một lần nữa trong độ tuổi từ 17 đến 21. Sàng lọc sớm hơn và thường xuyên hơn với một hồ sơ bộ lipid được khuyến cáo cho trẻ em và thanh thiếu niên có nguy cơ phát triển bệnh tim mạch như người lớn . Một số yếu tố nguy cơ tương tự như ở người lớn và bao gồm tiền sử gia đình mắc bệnh tim mạch hoặc các bệnh như tiểu đường, cao huyết áp, hoặc thừa cân. Khi chỉ số khối cơ thể của thanh niên (BMI) bằng hoặc cao hơn tỷ lệ 85%, nên xét nghiệm cholesterol. Đối với thanh niên béo phì (người có chỉ số BMI bằng hoặc cao hơn tỷ lệ 95%),  xét nghiệm đo mức độ cholesterol có thể được khuyến cáo 2 năm một lần.
   Trẻ em có nguy cơ cao nên xét nghiệm cholesterol lần đầu từ 2 đến 8 tuổi, theo Viện Nhi khoa Hoa Kỳ. Trẻ em dưới 2 tuổi quá nhỏ để được xét nghiệm. Nếu kết quả lần đầu không đáng lo ngại, xét nghiệm lúc đói nên được thực hiện lại sau ba đến năm năm.

Giám sát

   Là một phần của bộ lipid, xét nghiệm cholesterol có thể được chỉ định đều đặn để đánh giá sự thành công hạ lipid khi thay đổi lối sống, như chế độ ăn uống và tập thể dục, hoặc để xác định hiệu quả của liệu pháp thuốc statin. Hướng dẫn từ American College of Cardiology (ACC) và American Heart Association (AHA) khuyến cáo người lớn dùng statin nên có hồ sơ bộ lipid lúc đói sau 4 đến 12 tuần khi bắt đầu điều trị và sau đó cứ mỗi 3 đến 12 tháng sau đó để đảm bảo rằng thuốc đang hiệu quả.


Kết quả thử nghiệm có
ý nghĩa gì?

Mức lipid binh thường giúp duy trì tim khỏe mạnh và giảm nguy đau cơ tim hoặc đột quỵ. Bác sĩ sẽ xem xét toàn bộ kết quả cholesterol và các thành phần khác của hồ sơ bộ lipid cũng như các yếu tố nguy cơ khác để giúp xác định nguy cơ bệnh tim mạch.

Đối với người lớn, thử nghiệm thường được thực hiện để sàng lọc nguy cơ, kết quả thử nghiệm được qui thành ba loại nguy cơ:

    Nguy cơ thấp : Cholesterol dưới 200 mg / dL (5,18 mmol / L) được coi ítnguy cơ bệnh tim mạch.

    Nguy cơ trung bình : Cholesterol từ 200 đến 239 mg / dl (5,18-6,18 mmol / L) được xem nguy cơ bệnh tim mạch trung bình. Bác sĩ có thể quyết định cho làm  một hồ sơ bộ lipid để xem cholesterol cao là do lượng cholesterol xấu (LDL-C cao) hoặc cholesterol tốt (HDL-C) trong máu. Tùy thuộc vào kết quả của bộ lipid (và bất kỳ yếu tố nguy cơ khác có thể có), bác sĩ  sẽ quyết định làm gì.

    Nguy cơ cao: Cholesterol lớn hơn hoặc bằng 240 mg / dL (6,22 mmol / L) được xem là có nguy cơ bệnh tim mạch cao. Bác sĩ có thể yêu cầu làm  một hồ sơ bộ lipid (cũng như các xét nghiệm khác) để xác định nguyên nhân cholesterol cao . Một khi biết được nguyên nhân, một phương pháp điều trị thích hợp sẽ được quyết định.

Đối với trẻ em và thanh thiếu niên
Mức cholesterol dưới 170 mg / dL (4,40 mmol / L) chấp nhận được.
Mức 170-199 mg / dL (4,40-5,16 mmol / L) ranh giới hạn.
Mức cholesterol lớn hơn hoặc bằng 200 mg / dL (5,17 mmol / L) là cao.
Đối với thanh niên
Mức cholesterol dưới 190 mg / dL (4.92 mmol / L) chấp nhận được.
Mức 190-224 mg / dL (4,92-5,80 mmol / L) ranh giới hạn.
Mức cholesterol lớn hơn hoặc bằng 225 mg / dL (5,82 mmol / L) là cao.
Khi điều trị, xét nghiệm được sử dụng để xem có bao nhiêu cholesterol giảm do kết quả điều trị. 
Giá trị mục tiêu thường dựa trên LDL-C.

Vấn đề gì cần biết ?

* Cholesterol nên được đo khi bạn không bị bệnh.

*Cholesterol trong máu có thể thấp tạm thời trong bệnh cấp tính, ngay sau một cơn đau tim, hoặc trong quá trình căng thẳng (như phẫu thuật hay tai nạn). Bạn muốn thứ nghiệm Cholesterol bạn nên chờ ít nhất 6 tuần sau khi bị bất kỳ bệnh .
* Có một số tranh luận về cholesterol xấu( LDL – C ) rất thấp trong máu. Cholesterol xấu thấp (ít hơn 100 mg / dL (2,59 mmol / L)) thường  trong suy dinh dưỡng, bệnh gan, hoặc ung thư. Tuy nhiên không có bằng chứng cho thấy cholesterol thấp gây ra những bệnh này.
* Cholesterol cao trong thời kỳ mang thai. Phụ nữ nên chờ ít nhất sáu tuần sau khi sinh , xét nghiệm lại cholesterol .
* Một số loại thuốc được biết là làm tăng lượng cholesterol bao gồm anabolic steroid, thuốc chẹn beta, epinephrine, thuốc tránh thai, và vitamin D.

 

Câu hỏi thường

 1. Biểu đồ tăng trưởng tỷ lệ phần trăm BMI theo tuổi cho trẻ em là gì?

 Khác với cách phân loại BMI ở người lớn, với trẻ em (từ 2-20 tuổi) trọng lượng và chiều cao thay đổi trong quá trình tăng trưởng và phát triển, cũng như mối quan hệ của chúng với mỡ cơ thể, chỉ số BMI của trẻ phải được hiểu là so sánh tương đối so với các trẻ khác cùng giới tính và tuổi tác. 
Sau khi chỉ số BMI được tính cho một số lượng lớn trẻ em và thiếu niên, BMI được thể hiện dưới dạng phần trăm có thể thu được từ một biểu đồ. Những phần trăm này biểu thị chỉ số BMI của trẻ em so với các trẻ em khác. 
Biểu đồ tăng trưởng tỷ lệ phần trăm BMI theo tuổi là chỉ số thường được sử dụng nhất để đo lường kích thước và mô hình tăng trưởng của trẻ em và thanh thiếu niên. 
Các loại tình trạng cân nặng BMI cho tuổi và tỷ lệ phần trăm tương ứng dựa trên các khuyến nghị của ủy ban chuyên gia và được thể hiện trong bảng sau:

 

Tình trạng

Khoảng phần trăm của BMI

Thiếu cân

< 5%

Bình thường hoặc khỏe mạnh

Từ 5% tới 85%

Thừa cân ( Nguy cơ béo phì)

Từ 85% tới 95%

Béo phì

>95%

 

2. Điều gì gây ra cholesterol cao?
Cholesterol cao có thể là kết quả của một bệnh di truyền hoặc có thể là kết quả của một chế độ ăn uống nhiều chất béo bão hòa. Đối với nhiều người, nó được gây ra bởi sự kết hợp của cả một chế độ ăn uống nhiều cholesterol, chất béo bão hòa và chất béo trans và di truyền .

3. Phương pháp điều trị được khuyến cáo nếu mức độ của tôi là quá cao?
Việc điều trị được ưa thích là áp dụng một lối sống sẽ giúp giảm mức độ cholesterol của bạn, bao gồm cả tập thể dục và chế độ ăn uống ít cholesterol, chất béo bão hòa và chất béo trans. Một chế độ ăn ít chất béo sẽ làm giảm cholesterol khoảng 8%. Nếu chế độ ăn uống và tập thể dục không thể làm giảm cholesterol, thuốc thường được đề nghị với mục đích làm giảm mức độ LDL-C xấu. Đôi khi, hai loại thuốc khác nhau được sử dụng với nhau để điều trị những người có mức cholesterol rất cao. Sự lựa chọn thuốc khác nhau cho những người khác nhau mặc dù thuốc được sử dụng phổ biến nhất là statin. Các loại thuốc khác có thể được chỉ định bao gồm sequestrants acid mật, niacin, và fibrate. Bác sĩ của bạn sẽ cần phải dựa vào tình trạng cá nhân của bạn trước khi kê toa bất kỳ loại thuốc hạ cholesterol.

 

4 . Tôi có nguy cơ có một cơn đau tim, nếu tôi có cholesterol cao?
Cholesterol cao làm tăng nguy cơ của một cơn đau tim. Cholesterol càng cao, rủi ro cao hơn. Tuy nhiên, nhiều yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến nguy cơ của một cơn đau tim, chẳng hạn như tiểu đường, hút thuốc lá, tuổi tác, và huyết áp cao.

5. Tôi đã không thay đổi mô hình chế độ ăn uống hoặc tập thể dục, nhưng cholesterol của tôi đã tăng lên kể từ lần thử nghiệm cuối cùng. Tại sao?
Mức cholesterol biến động theo thời gian. Mức cholesterol đo
, có thể khác nhau  nhiều khi có thể dến 10% so với lần thử trên một tháng trước. Nó có thể tăng hoặc có thể giảm. Những thay đổi này được gọi là biến đổi sinh học và đó là biến đổi bình thường vốn có trong quá trình trao đổi chất của con người.

6. Bác sĩ của tôi nói rằng tôi đã có kết quả kiểm tra cholesterol cao, nhưng thay vì điều trị cho tôi, ông nói với tôi phải chờ một vài tháng và thử nghiệm nó một lần nữa. Tại sao?
Mức cholesterol biến động theo thời gian. Một lần đo lường cholesterol duy nhất  có thể không phải lúc nào cũng phản ánh mức độ cholesterol "bình thường" Vì lý do này, nó được khuyến khích thử nghiệm ít nhất là hai lần khác nhau,cách nhau một vài tuần đến vài tháng trước khi bắt đầu bất kỳ loại điều trị nào. Điều trị dựa trên giá trị trung bình .

 

            BS NGUYỄN VĂN THỊNH

 

( Nguồn tài liệu trên internet )

 

 

 

 

 

Cholesterol là một chất thuộc nhóm steroid, cần thiết cho cuộc sống, là thành phần cấu tạo các màng tế bào của tất cả các cơ quan và mô trong cơ thể . Cholesterol là tiền chất tạo ra các kích thích tố rất cần thiết cho phát triển, tăng trưởng và sinh sản. Cholesterol tạo thành các acid mật để giúp ruột hấp thụ các chất dinh dưỡng từ thức ăn. Một lượng nhỏ cholesterol của cơ thể lưu thông trong máu dưới dạng hạt phức tạp gọi là lipoprotein. Những lipoprotein này bao gồm một số hạt mang cholesterol dư thừa để xử lý (HDL-C, Cholesterol tốt) và một số các hạt mang cholesterol được lưu giữ trong các mô và cơ quan (LDL-C, Cholesterol xấu). Các xét nghiệm định lượng  cholesterol toàn phần (cholesterol tốt và xấu) được thực hiện trong máu.

Khi cần thiết cơ thể có thể sản xuất cholesterol để sử dụng , nhưng chế độ ăn uống cũng là nguồn cung cấp cholesterol. Một người có thể có mức độ cholesterol cao do di truyền hoặc do ăn quá nhiều các loại thực phẩm có nhiều chất cholesterol, chất béo bão hòa và không bão hòa (chất béo trans), hậu quả là mức độ cholesterol trong máu có thể tăng cao và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe . Cholesterol dư trong máu có thể được lưu giữ trong các màng của thành mạch máu tạo thành mảng xơ vữa. Mảng xơ vữa có thể làm  thu hẹp hoặc làm tắt nghẽn mạch máu, dẫn đến xơ cứng động mạch (xơ vữa động mạch) và tăng nguy cơ của nhiều vấn đề về sức khỏe, bao gồm cả bệnh tim và đột quỵ.

Giám sát và duy trì nồng độ cholesterol bình thường là quan trọng để có cuộc sống khỏe mạnh.

Xét nghiệm cholesterol toàn phần, cùng với các xét ​​nghiệm các chất béo khác trong huyết thanh được sử dụng để chẩn đoán tăng lipid máu. Nồng độ cũng tăng trong các rối loạn chức năng gan và tuyến giáp.

Xét nghiệm cholesterol liên quan đến triglycerides, HDL-cholesterol  LDL-cholesterol là hữu ích trong việc đánh giá nguy cơ bệnh mạch vành tim.

Vì vậy, xét nghiệm này được sử dụng trong chẩn đoán và điều trị bệnh xơ vữa động mạch

Tăng cholesterol máu cũng có thể do bệnh tiểu đường, nhược giáp.

 

 Thử nghiệm được sử dụng như thế nào?

 

Xét nghiệm cholesterol toàn phần được sử dụng đơn độc hoặc là một phần của hồ sơ bộ lipid để giúp dự đoán nguy cơ phát triển bệnh tim mạch của cá nhân và giúp đưa ra quyết một định phương pháp điều trị cần nếu có ranh giới hoặc nguy cơ cao. Là một phần của hồ sơ bộ lipid (bao gồm các xét nghiệm cholesterol lipoprotein mật độ cao (HDL-C), cholesterol lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL-C) và triglycerides, cũng có thể được sử dụng để theo dõi hiệu quả điều trị .

 

Vì cholesterol cao trong máu liên quan đến xơ cứng động mạch (xơ vữa động mạch), bệnh tim mạch, và tăng nguy cơ tử vong vì cơn đau tim ( nhồi máu cơ tim cấp), kiểm tra cholesterol được coi là một phần thường qui của chăm sóc sức khỏe dự phòng.

 

Kết quả xét nghiệm cholesterol và các thành phần khác của hồ sơ bộ lipid được sử dụng cùng với các yếu tố nguy cơ khác đ đánh giá có thể phát triển bệnh tim mạch,  một kế hoạch điều trị và theo dõi có thể được đề nghị. Các lựa chọn điều trị có thể bao gồm những thay đổi về lối sống như chế độ ăn kiêng hoặc tập thể dục hoặc thuốc hạ lipid như statin.


Khi
nào được chỉ định?

Người lớn
 
Xét nghiệm cholesterol được khuyến cáo như là một xét nghiệm sàng lọc được thực hiện cho tất cả người lớn không có yếu tố nguy cơ mắc bệnh tim mạch ít nhất bốn đến sáu năm một lần. Cholesterol  thường được thực hiện kết hợp với  kiểm tra sức khỏe thường qui.
 
Cholesterol được xét nghiệm thường xuyên hơn (thường là vài lần mỗi năm) khi một người có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ bị bệnh tim mạch. Các yếu tố nguy cơ chính bao gồm:
 
Hút thuốc lá
Thừa cân hoặc béo phì
Chế độ ăn uống không lành mạnh
Không hoạt động thể chất (không tập thể dục đủ)
Tuổi (nam từ 45 tuổi trở lên hoặc nữ từ 55 tuổi trở lên)
Huyết áp cao  hoặc dùng thuốc cao huyết áp
Tiền sử gia đình mắc bệnh tim mạch sớm (bệnh tim mạch ở một thành viên trong gia đình  - nam giới dưới 55 tuổi hoặc người thân dưới 65 tuổi)
Có bệnh tim đã có từ trước hoặc đã bị đau tim
Bị tiểu đường hoặc tiền tiểu đường
 
Thiếu niên
 
Sàng lọc lượng cholesterol cao như một phần của hồ sơ bộ lipid được khuyến cáo cho trẻ em và thanh niên, nên được xét nhgi6m một lần giữa các độ tuổi từ 9 đến 11 và sau đó một lần nữa trong độ tuổi từ 17 đến 21. Sàng lọc sớm hơn và thường xuyên hơn với một hồ sơ bộ lipid được khuyến cáo cho trẻ em và thanh thiếu niên có nguy cơ phát triển bệnh tim mạch như người lớn . Một số yếu tố nguy cơ tương tự như ở người lớn và bao gồm tiền sử gia đình mắc bệnh tim mạch hoặc các bệnh như tiểu đường, cao huyết áp, hoặc thừa cân. Khi chỉ số khối cơ thể của thanh niên (BMI) bằng hoặc cao hơn tỷ lệ 85%, nên xét nghiệm cholesterol. Đối với thanh niên béo phì (người có chỉ số BMI bằng hoặc cao hơn tỷ lệ 95%),  xét nghiệm đo mức độ cholesterol có thể được khuyến cáo 2 năm một lần.
 
Trẻ em có nguy cơ cao nên xét nghiệm cholesterol lần đầu từ 2 đến 8 tuổi, theo Viện Nhi khoa Hoa Kỳ. Trẻ em dưới 2 tuổi quá nhỏ để được xét nghiệm. Nếu kết quả lần đầu không đáng lo ngại, xét nghiệm lúc đói nên được thực hiện lại sau ba đến năm năm.
 
Giám sát
 
Là một phần của bộ lipid, xét nghiệm cholesterol có thể được chỉ định đều đặn để đánh giá sự thành công hạ lipid khi thay đổi lối sống, như chế độ ăn uống và tập thể dục, hoặc để xác định hiệu quả của liệu pháp thuốc statin. Hướng dẫn từ American College of Cardiology (ACC) và American Heart Association (AHA) khuyến cáo người lớn dùng statin nên có hồ sơ bộ lipid lúc đói sau 4 đến 12 tuần khi bắt đầu điều trị và sau đó cứ mỗi 3 đến 12 tháng sau đó để đảm bảo rằng thuốc đang hiệu quả.


Kết quả thử nghiệm có
ý nghĩa gì?

Mức lipid binh thường giúp duy trì tim khỏe mạnh và giảm nguy đau cơ tim hoặc đột quỵ. Bác sĩ sẽ xem xét toàn bộ kết quả cholesterol và các thành phần khác của hồ sơ bộ lipid cũng như các yếu tố nguy cơ khác để giúp xác định nguy cơ bệnh tim mạch.
 
Đối với người lớn, thử nghiệm thường được thực hiện để sàng lọc nguy cơ, kết quả thử nghiệm được qui thành ba loại nguy cơ:

    
Nguy cơ thấp : Cholesterol dưới 200 mg / dL (5,18 mmol / L) được coi ítnguy cơ bệnh tim mạch.
    
Nguy cơ trung bình : Cholesterol từ 200 đến 239 mg / dl (5,18-6,18 mmol / L) được xem nguy cơ bệnh tim mạch trung bình. Bác sĩ có thể quyết định cho làm  một hồ sơ bộ lipid để xem cholesterol cao là do lượng cholesterol xấu (LDL-C cao) hoặc cholesterol tốt (HDL-C) trong máu . Tùy thuộc vào kết quả của bộ lipid (và bất kỳ yếu tố nguy cơ khác có thể có), bác sĩ  sẽ quyết định làm gì.
    Nguy cơ cao:
Cholesterol lớn hơn hoặc bằng 240 mg / dL (6,22 mmol / L) được xem là có nguy cơ bệnh tim mạch cao. Bác sĩ có thể yêu cầu làm  một hồ sơ bộ lipid (cũng như các xét nghiệm khác) để xác định nguyên nhân cholesterol cao . Một khi biết được nguyên nhân, một phương pháp điều trị thích hợp sẽ được quyết định.

Đối với trẻ em và thanh thiếu niên
 
Mức cholesterol dưới 170 mg / dL (4,40 mmol / L) chấp nhận được.
Mức 170-199 mg / dL (4,40-5,16 mmol / L) ranh giới hạn.
Mức cholesterol lớn hơn hoặc bằng 200 mg / dL (5,17 mmol / L) là cao.
 
Đối với thanh niên
 
Mức cholesterol dưới 190 mg / dL (4.92 mmol / L) chấp nhận được.
Mức 190-224 mg / dL (4,92-5,80 mmol / L) ranh giới hạn.
Mức cholesterol lớn hơn hoặc bằng 225 mg / dL (5,82 mmol / L) là cao.
Khi điều trị, xét nghiệm được sử dụng để xem có bao nhiêu cholesterol giảm do kết quả điều trị. Giá trị mục tiêu thường dựa trên LDL-C.



Vấn đề gì cần biết ?

* Cholesterol nên được đo khi bạn không bị bệnh.

*Cholesterol trong máu có thể thấp tạm thời trong bệnh cấp tính, ngay sau một cơn đau tim, hoặc trong quá trình căng thẳng (như phẫu thuật hay tai nạn). Bạn muốn thứ nghiệm Cholesterol bạn nên chờ ít nhất 6 tuần sau khi bị bất kỳ bệnh .

* Có một số tranh luận về cholesterol xấu( LDL – C ) rất thấp trong máu. Cholesterol xấu thấp (ít hơn 100 mg / dL (2,59 mmol / L)) thường  trong suy dinh dưỡng, bệnh gan, hoặc ung thư. Tuy nhiên không có bằng chứng cho thấy cholesterol thấp gây ra những bệnh này.

* Cholesterol cao trong thời kỳ mang thai. Phụ nữ nên chờ ít nhất sáu tuần sau khi sinh , xét nghiệm lại cholesterol .

* Một số loại thuốc được biết là làm tăng lượng cholesterol bao gồm anabolic steroid, thuốc chẹn beta, epinephrine, thuốc tránh thai, và vitamin D.

 

Câu hỏi thường

  1. Biểu đồ tăng trưởng tỷ lệ phần trăm BMI theo tuổi cho trẻ em là gì?

Khác với cách phân loại BMI ở người lớn, với trẻ em (từ 2-20 tuổi) trọng lượng và chiều cao thay đổi trong quá trình tăng trưởng và phát triển, cũng như mối quan hệ của chúng với mỡ cơ thể, chỉ số BMI của trẻ phải được hiểu là so sánh tương đối so với các trẻ khác cùng giới tính và tuổi tác. 
Sau khi chỉ số BMI được tính cho một số lượng lớn trẻ em và thiếu niên, BMI được thể hiện dưới dạng phần trăm có thể thu được từ một biểu đồ. Những phần trăm này biểu thị chỉ số BMI của trẻ em so với các trẻ em khác. 
Biểu đồ tăng trưởng tỷ lệ phần trăm BMI theo tuổi là chỉ số thường được sử dụng nhất để đo lường kích thước và mô hình tăng trưởng của trẻ em và thanh thiếu niên. 
Các loại tình trạng cân nặng BMI cho tuổi và tỷ lệ phần trăm tương ứng dựa trên các khuyến nghị của ủy ban chuyên gia và được thể hiện trong bảng sau:

Tình trạng

Khoảng phần trăm của BMI

Thiếu cân

< 5%

Bình thường hoặc khỏe mạnh

Từ 5% tới 85%

Thừa cân ( Nguy cơ béo phì)

Từ 85% tới 95%

Béo phì

>95%

BMI trẻ em

 

 

2. Điều gì gây ra cholesterol cao?

Cholesterol cao có thể là kết quả của một bệnh di truyền hoặc có thể là kết quả của một chế độ ăn uống
nhiều chất béo bão hòa. Đối với nhiều người, nó được gây ra bởi sự kết hợp của cả một chế độ ăn uống nhiều cholesterol, chất béo bão hòa và chất béo trans và di truyền .

3. Phương pháp điều trị được khuyến cáo nếu mức độ của tôi là quá cao?

Việc điều trị được ưa thích là áp dụng một lối sống sẽ giúp giảm mức độ cholesterol của bạn, bao gồm cả tập thể dục và chế độ ăn uống ít cholesterol, chất béo bão hòa và chất béo trans. Một chế độ ăn ít chất béo sẽ làm giảm cholesterol khoảng 8%. Nếu chế độ ăn uống và tập thể dục không thể làm giảm cholesterol, thuốc thường được đề nghị với mục đích làm giảm mức độ LDL-C xấu. Đôi khi, hai loại thuốc khác nhau được sử dụng với nhau để điều trị những người có mức cholesterol rất cao. Sự lựa chọn thuốc khác nhau cho những người khác nhau mặc dù thuốc được sử dụng phổ biến nhất là statin. Các loại thuốc khác có thể được chỉ định bao gồm sequestrants acid mật, niacin, và fibrate. Bác sĩ của bạn sẽ cần phải dựa vào tình trạng cá nhân của bạn trước khi kê toa bất kỳ loại thuốc hạ cholesterol.

 

4 . Tôi có nguy cơ có một cơn đau tim, nếu tôi có cholesterol cao?

Cholesterol cao làm tăng nguy cơ của một cơn đau tim. Cholesterol càng cao, rủi ro cao hơn. Tuy nhiên, nhiều yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến nguy cơ của một cơn đau tim, chẳng hạn như tiểu đường, hút thuốc lá, tuổi tác, và huyết áp cao.

5. Tôi đã không thay đổi mô hình chế độ ăn uống hoặc tập thể dục, nhưng cholesterol của tôi đã tăng lên kể từ lần thử nghiệm cuối cùng. Tại sao?

Mức cholesterol biến động theo thời gian. Mức cholesterol đo
, có thể khác nhau  nhiều khi có thể dến 10% so với lần thử trên một tháng trước. Nó có thể tăng hoặc có thể giảm. Những thay đổi này được gọi là biến đổi sinh học và đó là biến đổi bình thường vốn có trong quá trình trao đổi chất của con người.

6. Bác sĩ của tôi nói rằng tôi đã có kết quả kiểm tra cholesterol cao, nhưng thay vì điều trị cho tôi, ông nói với tôi phải chờ một vài tháng và thử nghiệm nó một lần nữa. Tại sao?

Mức cholesterol biến động theo thời gian. Một lần đo lường cholesterol duy nhất  có thể không phải lúc nào cũng phản ánh mức độ cholesterol "bình thường" Vì lý do này, nó được khuyến khích thử nghiệm ít nhất là hai lần khác nhau,cách nhau một vài tuần đến vài tháng trước khi bắt đầu bất kỳ loại điều trị nào. Điều trị dựa trên giá trị trung bình .



            BS NGUYỄN VĂN THỊNH

( Nguồn tài liệu trên internet )

DANH MỤC BÀI VIẾT

XEM NHIỀU NHẤT

THỐNG KÊ TRUY CẬP

01835435
Hôm nay.........................
Hôm qua.........................
Trong tuần.........................
Tuần trước.........................
Trong tháng.....................
Tháng trước.......................
Tổng cộng
595
641
5429
1824133
13577
22592
1835435

Đang có 20 khách và không thành viên đang online